Một số khó khăn trong công tác rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật trên địa bàn tỉnh

31/07/2023 09:15 Số lượt xem: 206

Công tác rà soát văn bản quy phạm pháp luật là một nhiệm vụ quan trọng, nhất là đối với lĩnh vực xây dựng, ban hành và áp dụng văn bản quy phạm pháp luật tại địa phương. Hoạt động rà soát văn bản luôn được tiến hành thường xuyên để xem xét, đối chiếu, đánh giá các quy định của văn bản được rà soát nhằm phát hiện, xử lý hoặc kiến nghị xử lý các quy định trái pháp luật, mâu thuẫn, chồng chéo, hết hiệu lực hoặc không còn phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội, từ đó đề xuất với cơ quan nhà nước có thẩm quyền kịp thời đình chỉ việc thi hành, bãi bỏ, sửa đổi, bổ sung, ban hành văn bản mới hoặc thay thế văn bản quy phạm pháp luật cho phù hợp với quy định pháp luật hiện hành và tình hình thực tế tại địa phương.

Trong thời gian qua, được sự quan tâm chỉ đạo sâu sát của HĐND, UBND tỉnh công tác rà soát, hệ thống hoá văn bản quy phạm pháp luật trên địa bàn tỉnh đã được triển khai thực hiện nghiêm túc. có bước tiến đáng kể, hằng năm đã rà soát và công bố danh mục văn bản hết hiệu lực thi hành làm cơ sở, căn cứ để triển khai các nhiệm vụ tại địa phương. Tuy nhiên, công tác rà soát, hệ thống hóa văn bản QPPL trên địa bàn tỉnh vẫn gặp một số khó khăn, bất cập cụ thể như sau:

Thứ nhất: rà soát, hệ thống hoá văn bản QPPL là công việc phức tạp, khối lượng công việc lớn đòi hỏi phải có một lực lượng cán bộ, công chức đủ về số lượng, mạnh về chất lượng. Thời gian qua, các cấp chính quyền địa phương tại tỉnh cũng đã quan tâm kiện toàn về tổ chức, biên chế cho ngành Tư pháp, song cho đến thời điểm này, tổ chức biên chế của cơ quan được giao trách nhiệm rà soát, hệ thống hoá văn bản QPPL vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ. Đối với Sở Tư pháp, nhiệm vụ rà soát, hệ thống hoá văn bản được giao cho Phòng Xây dựng và Kiểm tra văn bản thực hiện, song với số lượng biên chế ít 03 người cùng với khối lượng công việc tương đối nhiều ở các mảng công tác khác như xây dựng, kiểm tra văn bản thì công tác rà soát, hệ thống hoá văn bản QPPL mới chỉ được thực hiện định kỳ 01 lần/01 năm và rà soát khi có yêu cầu của các Bộ chuyên ngành mà chưa được tiến hành thường xuyên. Đối với Phòng Tư pháp các huyện, thị xã, thành phố, hiện nay bình quân mỗi Phòng Tư pháp có từ 2 - 3 biên chế do đó hầu hết các Phòng Tư pháp không bố trí được cán bộ chuyên trách công tác này và cũng chỉ thực hiện định kỳ 01 lần/01 năm và khi có yêu cầu.

Thứ hai: trong quá trình triển khai thực hiện công tác rà soát, các sở, ban, ngành chưa thực sự chủ động phối hợp với Sở Tư pháp để rà soát văn bản quy phạm pháp luật hoặc việc rà soát văn bản quy phạm pháp luật được các cơ quan, đơn vị thực hiện mang tính hình thức nên hiệu quả chưa cao.

Thứ ba: quá trình rà soát, hệ thống hóa các văn bản liên quan đến nhiều ngành, lĩnh vực được ban hành qua các thời kỳ trên địa bàn tỉnh, đòi hỏi phải tập hợp được đầy đủ các văn bản phục vụ rà soát, vì vậy việc tập hợp văn bản để tra cứu phục vụ cho rà soát, hệ thống hóa rất khó khăn. Luật, Pháp lệnh, Nghị định và các văn bản QPPL của cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành ngày càng nhiều, thường xuyên được sửa đổi, bổ sung, tính ổn định chưa cao. Đội ngũ cán bộ pháp chế giúp Thủ trưởng các cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân tỉnh trong công tác xây dựng, kiểm tra, rà soát văn bản QPPL chưa được kiện toàn, bổ sung, hầu hết các đơn vị còn bố trí cán bộ kiêm nhiệm. Một số cán bộ làm công tác pháp chế chưa phát huy hết vai trò, trách nhiệm trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao, chưa đầu tư nhiều trí tuệ và thời gian cho công tác tham mưu văn bản nên đã ảnh hưởng đến chất lượng văn bản.

Thứ tư: hiện nay quy trình rà soát, hệ thống hóa văn bản QPPL được thực hiện theo quy đinh tại Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 15/4/2016 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Theo đó, quy trình rà soát văn bản gồm các bước cơ bản như lập kế hoạch rà soát; thu thập văn bản QPPL để rà soát và các văn bản để đối chiếu; thực hiện các thao tác nghiệp vụ cụ thể như đọc, nghiên cứu văn bản, đối chiếu, so sánh văn bản, nhận biết các dạng khiếm khuyết của văn bản; lập danh mục văn bản gồm danh mục chung, danh mục văn bản còn hiệu lực, danh mục văn bản hết hiệu lực, danh mục văn bản đề nghị sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ, huỷ bỏ, danh mục văn bản cần ban hành mới; xử lý kết quả rà soát và xây dựng báo cáo kết quả rà soát. Quy trình thực hiện hệ thống hoá gồm các bước cơ bản như lập kế hoạch hệ thống hoá văn bản QPPL; thu thập, tập hợp và phân loại văn bản QPPL; thực hiện các thao tác nghiệp vụ cụ thể như các thao tác nghiệp vụ của việc rà soát văn bản; công bố kết quả hệ thống hoá và xuất bản các tập hệ thống hoá. Thực tế cho thấy, công tác rà soát, hệ thống hoá văn bản QPPL mặc dù đã được các sở, ngành quan tâm thực hiện, song hầu hết các sở, ngành không thực hiện được theo đúng quy trình nêu trên, hầu hết đều chỉ dừng lại ở việc tập hợp các văn bản sau đó gửi về Sở Tư pháp; còn lại công tác rà soát, lập các danh mục, hệ thống hóa văn bản QPPL đều do Sở Tư pháp thực hiện.

Thứ năm: đối với công tác hệ thống hóa văn bản QPPL, việc tập hợp được đầy đủ văn bản phục vụ hệ thống hóa văn bản gặp nhiều khó khăn do việc lưu trữ các văn bản thuộc nguồn văn bản phục vụ rà soát, hệ thống hóa theo quy định còn nhiều bất cập, nhiều đơn vị không xác định được chính xác các văn bản thuộc trách nhiệm hệ thống hóa của đơn vị mình... dẫn đến tình trạng có văn bản không còn phù hợp với văn bản của cấp trên nhưng việc tham mưu sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế chưa kịp thời.

Thu Thủy