Một số vấn đề về nội dung rà soát văn bản QPPL theo căn cứ văn bản

25/02/2020 10:38 Số lượt xem: 48

Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14/5/2016  quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định nội dung rà soát văn bản bao gồm nội dung rà soát theo căn cứ là văn bản và nội dung rà soát theo căn cứ là tình hình phát triển kinh tế- xã hội. Theo đó, nội dung rà soát theo căn cứ văn bản được quy định như sau:

Trình tự rà soát theo căn cứ là văn bản được quy định tại Điều 149 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP. Cụ thể như sau:

- Thủ trưởng cơ quan, đơn vị phân công người rà soát văn bản ngay sau khi văn bản là căn cứ rà soát được thông qua hoặc ký ban hành.

- Người rà soát xác định văn bản cần rà soát, báo cáo Thủ trưởng cơ quan, đơn vị quyết định.

- Người rà soát xem xét, đánh giá phần căn cứ ban hành văn bản được rà soát. Việc xem xét, đánh giá phần căn cứ ban hành của văn bản được rà soát phải xác định các văn bản thay thế, hủy bỏ, bãi bỏ, sửa đổi, bổ sung, ngưng hiệu lực văn bản là căn cứ ban hành văn bản được rà soát và xác định các văn bản khác mới được ban hành có quy định liên quan đến quy định của văn bản được rà soát.

- Người rà soát xem xét, xác định hiệu lực của văn bản được rà soát.

+ Trường hợp văn bản được rà soát hết hiệu lực, ngưng hiệu lực theo quy định tại Điều 153 và khoản 1, 2 và 3 Điều 154 của Luật, người rà soát xác định một phần hoặc toàn bộ nội dung, lý do, thời điểm hết hiệu lực, ngưng hiệu lực của văn bản được rà soát. Cụ thể: Điều 153 Luật ban hành văn bản QPPL năm 2015 quy định văn bản QPPL ngưng hiệu lực toàn bộ hoặc một phần cho đến khi có quyết định xử lý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong các trường hợp sau: Bị đình chỉ việc thi hành theo quy định tại khoản 3 Điều 164, khoản 2 Điều 165, khoản 2 và 3 Điều 166, khoản 2 và khoản 3 Điều 167 của Luật năm 2015. Trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền ra quyết định bãi bỏ thì văn bản hết hiệu lực; nếu không rà quyết định bãi bỏ thì văn bản tiếp tục có hiệu lực; Cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản QPPL quyết định ngưng hiệu lực của văn bản đó trong một thời hạn nhất định để giải quyết các vấn đề kinh tế- xã hội phát sinh.

Khoản 1, 2, và 3 Điều 154 Luật ban hành văn bản QPPL năm 2015 quy định các trường hợp văn bản QPPL hết hiệu lực toàn bộ hoặc một phần trong các trường hợp: Hết thời hạn có hiệu lực đã được quy định trong văn bản; Được sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế bằng văn bản quy phạm pháp luật mới của chính cơ quan nhà nước đã ban hành văn bản đó; Bị bãi bỏ bằng một văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Việc xác định hiệu lực của văn bản quy định tại khoản 4 Điều 154 của Luật được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 38 của Nghị định số 34/2016/NĐ-CP. Cụ thể:

+ Văn bản quy phạm pháp luật hết hiệu lực thì văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết thi hành các điều, khoản, điểm được giao quy định chi tiết thi hành văn bản đó đồng thời hết hiệu lực;

+Trường hợp văn bản quy phạm pháp luật được quy định chi tiết hết hiệu lực một phần thì các nội dung quy định chi tiết phần hết hiệu lực của văn bản được quy định chi tiết sẽ hết hiệu lực đồng thời với phần hết hiệu lực của văn bản được quy định chi tiết. Trường hợp không thể xác định được nội dung hết hiệu lực của văn bản quy định chi tiết thi hành thì văn bản đó hết hiệu lực toàn bộ;

+ Trường hợp một văn bản quy định chi tiết nhiều văn bản quy phạm pháp luật, trong đó chỉ có một hoặc một số văn bản được quy định chi tiết hết hiệu lực thì nội dung của văn bản quy định chi tiết thi hành sẽ hết hiệu lực đồng thời với một hoặc một số văn bản được quy định chi tiết hết hiệu lực. Trường hợp không thể xác định được các nội dung hết hiệu lực của văn bản quy định chi tiết thi hành thì văn bản đó hết hiệu lực toàn bộ.

- Người rà soát xem xét, đánh giá thẩm quyền về hình thức và thẩm quyền vè nội dung của văn bản được rà soát. Người rà soát văn bản xem xét sự phù hợp về thẩm quyền ban hành văn bản được rà soát( thẩm quyền về hình thức và thẩm quyền về nội dung) với quy định của văn bản là căn cứ để rà soát. Thẩm quyền về hình thức được xác định theo quy định về hình thức( tên loại) văn bản thuộc thẩm quyền ban hành của cơ quan, người có thẩm quyền. Thẩm quyền về nội dung được xác định theo quy định về phân công, phân cấp, quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn quản lý nhà nước cụ thể của từng cơ quan, từng cấp, từng ngành đối với từng lĩnh vực.

- Người rà soát xem xét, đánh giá nội dung văn bản được rà soát để xác định quy định trái, chồng chéo, mâu thuẫn với văn bản là căn cứ rà soát. Trường hợp các văn bản là căn cứ để rà soát có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn; nếu các văn bản là căn cứ để rà soát do một cơ quan ban hành mà có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng văn bản được ban hành sau.

Nguyễn Thị Thu Thủy